Cổ phiếu là gì?

Trong bài viết này, chúng tôi mang đến cho bạn đọc cách hiểu thực tế nhất về cổ phiếu.

Cổ phần – cổ phiếu

Trước hết hãy hiểu về “công ty cổ phần”. “Công ty cổ phần” là một loại hình doanh nghiệp, phạm vi trách nhiệm của công ty độc lập với trách nhiệm của người sở hữu. Khi thành lập, công ty cổ phần đăng ký vốn góp gọi là vốn điều lệ. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông, như vậy, cổ đông chính là những người góp vốn vào công ty và là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Các cổ đông thực hiện quyền của mình thông qua quyền biểu quyết; hưởng các lợi ích tương ứng với tỉ lệ cổ phần nắm giữ.

Các cổ đông đầu tiên góp vốn để thành lập công ty cổ phần được gọi là cổ đông sáng lập.

Cổ phiếu là bằng chứng/chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với cổ phần. Cổ phiếu là một loại chứng khoán. Bạn không cần quá quan tâm đến việc phân biệt cổ phần và cổ phiếu bởi thực tế hai thuật ngữ này gần như được hiểu và sử dụng như nhau.

Mệnh giá cổ phần – cổ phiếu

Ở Việt Nam, thông thường cổ phần có mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần hoặc 100.000 đồng/cổ phần.

Ví dụ: Vốn điều lệ của Công ty cổ phần Nhựa An Phát (Mã chứng khoán AAA) là 1.711.999.760.000 đồng, mệnh giá mỗi cổ phần là 10.000 đồng/cổ phần, như vậy An Phát có 171,199,976 cổ phần tương ứng với vốn điều lệ.

Thị giá cổ phần – cổ phiếu

Thị giá cổ phần/cổ phiếu là giá trị giao dịch của cổ phiếu trên thị trường, giá trị này có thể nhỏ hơn, lớn hơn hoặc bằng mệnh giá. Thị giá của cổ phiếu phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng chung quy lại chính là cung – cầu cổ phiếu.

Ví dụ: Cổ phiếu AAA của CTCP Nhựa An Phát có mệnh giá 10.000 đồng/cổ phần, hiện tại (05/6/2020) đang được giao dịch với thị giá 13.750 đồng trên sàn giao dịch HOSE.

 

Vốn điều lệ đăng ký – vốn điều lệ thực góp

Cổ phần Đăng ký là số lượng cổ phần mà doanh nghiệp đăng ký phát hành tương ứng với vốn điều lệ đăng ký khi thành lập doanh nghiệp và được cơ quan nhà nước (Phòng Đăng ký kinh doanh – Sở Kế hoạch đầu tư các tỉnh) chấp thuận, được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Theo quy định của luật doanh nghiệp, khi thành lập công ty cổ phần, các cổ đông phải thực hiện góp vốn điều lệ tương ứng với số cổ phần đã đăng ký trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Nếu sau thời gian này các cổ đông không góp đủ vốn và không có cổ đông khác góp thay thế, doanh nghiệp phải thực hiện điều chỉnh vốn điều lệ đăng ký tương ứng với mức vốn đã góp thực tế (thực góp).

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, khi không góp đủ vốn theo đăng ký, doanh nghiệp vẫn không làm thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ. Như vậy, sẽ phát sinh sự chênh lệch giữa vốn thực góp và vốn điều lệ đăng ký.

Về pháp lý, chỉ có những cổ phần đã được thanh toán (góp vốn thực tế) thì mới có giá trị, có quyền và nghĩa vụ tương ứng.

Các nhà giao dịch cổ phiếu trên sàn giao dịch như HOSE, HNX, UPCOM có thể yên tâm rằng tất cả các cổ phiếu giao dịch đều đã được góp vốn. Tuy nhiên, với các nhà đầu tư giao dịch mua bán doanh nghiệp chưa niêm yết thì rất cần quan tâm đến vấn đề này.

-DC-